Văn khấn mùng 1 và văn khấn ngày rằm là hai bài khấn dùng trong lễ cúng đầu tháng và giữa tháng âm lịch tại ban thờ gia đình. Mùng 1 gọi là ngày Sóc, ngày 15 gọi là ngày Vọng. Cả hai dịp đều khấn theo thứ tự: thần linh và Thổ công trước, gia tiên sau. Đây là điểm nhiều người bỏ sót, vì phần lớn bài trên mạng chỉ chép mỗi bản gia tiên. Thổ công được xem là vị thần cai quản đất đai nhà cửa, nên theo lệ cũ phải trình với ngài trước rồi mới mời tổ tiên về hưởng lễ.
Nội dung dưới đây gồm: cúng ai, bảng lễ vật chay và mặn, nguyên văn bài cúng mùng 1 phần Thổ công, nguyên văn văn khấn gia tiên ngày rằm, cách đổi dòng ghi ngày và những chỗ hay bị chép sai.
Cúng mùng 1 và ngày rằm là cúng ai
Lễ mùng 1 và ngày rằm hàng tháng hướng tới hai nhóm đối tượng:
- Thần linh: Thổ công (Thổ Địa), Táo quân, Long Mạch, Ngũ phương Ngũ thổ Phúc đức chính Thần, Bản cảnh Thành hoàng, tức các vị cai quản đất đai, bếp núc và khu vực gia đình cư ngụ.
- Gia tiên: Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ, Hiển khảo, Hiển tỷ và chư vị hương linh nội ngoại của dòng họ.
Cách giải thích quen thuộc trong dân gian: Thổ công là chủ đất, gia tiên là khách được mời về, trình với chủ đất rồi mới mời khách thì mới thuận. Nhà có hai ban thờ riêng thì khấn ban thần linh trước; nhà một ban thờ chung thì đọc lần lượt hai bài ngay tại ban đó. Một số trang đăng ngược thứ tự này, không khớp với các sách nghi lễ cổ truyền. Riêng Táo quân còn có lễ riêng vào 23 tháng Chạp với bài cúng khác, xem văn khấn ông Công ông Táo.

Sắm lễ cúng mùng 1 và ngày rằm
Theo các sách nghi lễ, lễ Sóc và lễ Vọng thông thường là lễ chay. Một số nhà làm thêm lễ mặn theo nếp riêng. Không có quy định bắt buộc phải làm mâm to.
| Loại lễ | Lễ vật thường dùng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Lễ chay (phổ biến) | Hương, hoa tươi, trầu cau, quả, tiền vàng, chén nước sạch | Mức lễ được nhắc nhiều nhất |
| Lễ chay giản lược | Hương, hoa, lá trầu, quả cau, chén nước | Các sách đều ghi lễ vật có thể rất giản dị |
| Lễ mặn (tùy nhà) | Rượu, thịt gà luộc, xôi, các món mặn khác | Không bắt buộc, thường thấy khi nhà có việc |
Tiền vàng có trong danh mục lễ vật truyền thống, nhưng lượng dùng nên hạn chế vì an toàn cháy nổ và môi trường. Nhiều chùa và nhiều gia đình nay bỏ hẳn phần này. Ban thờ cũng cần lau dọn định kỳ, riêng việc tỉa chân nhang cuối năm có bài xin phép riêng, xem văn khấn bao sái bàn thờ.
Văn khấn Thổ công và các vị thần
Đây là bài đọc trước, tức văn khấn Thổ công mùng 1 và ngày rằm, chép nguyên văn theo sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam. Chỗ trống là phần gia chủ tự điền.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
Tín chủ là………………
Ngụ tại…………………
Hôm nay là ngày… tháng… năm…
Tín chủ con thành tâm sắm sửa hương, hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả, bày ra trước án. Đốt nén hương thơm kính mời: ngài Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần, ngài Bản gia Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
Cúi xin các Ngài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Những chỗ hay bị chép sai trong bản lưu hành trên mạng:
- “Lễ bạc tâm thành” hay bị chép thành “lễ bạn tâm thành”. Chữ đúng là bạc, nghĩa là lễ mỏng.
- “Hương, hoa” nhiều nơi chép nhầm thành “hương, loa”.
- “Toàn gia” hay bị viết sai thành “tòan gia”.
- “Ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần” có bản rơi mất chữ ngài.

Văn khấn gia tiên
Bài này đọc sau, chép nguyên văn theo sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam.
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn Thần.
Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ).
Tín chủ (chúng) con là: ………………
Ngụ tại: ………………
Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một), tín chủ con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao Tiên Tổ, thành tâm sắm lễ, hương, hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.
Chúng con kính mời: Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.
Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ ………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho gia đình chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)
Về dị bản: còn một bản gia tiên khác cũng lưu hành rộng, mở đầu bằng “Các cụ Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ, Thúc bá đệ huynh và các hương linh nội, ngoại” và kết bằng “Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám”. Nội dung tương đương. Nên chọn một bản dùng ổn định, không trộn hai bản.
Hai chi tiết dễ nhầm: “Hiển khảo, Hiển tỷ” chỉ cha mẹ đã mất, nếu cha mẹ còn sống thì thay bằng “Tổ Khảo, Tổ Tỷ”; “cù lao Tiên Tổ” chỉ công ơn sinh dưỡng, hay bị chép nhầm thành “cửu lao”.

Mùng 1 và ngày rằm khấn có khác nhau không
Trả lời thẳng: văn khấn mùng 1 hàng tháng và văn khấn rằm hàng tháng là một bản. Hai bài trên dùng chung, chỉ khác ở dòng ghi ngày.
- Bản Thổ công, dòng “Hôm nay là ngày… tháng… năm…” đọc thành “ngày mồng Một tháng Bảy năm Bính Ngọ”, hoặc “ngày Rằm tháng Bảy năm Bính Ngọ”.
- Bản gia tiên, dòng “Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một)” đã có sẵn hai lựa chọn trong ngoặc, khấn thì đọc một trong hai.
- Họ tên, địa chỉ và tên dòng họ giữ nguyên.
Muốn đọc đúng tên năm âm lịch, bạn chỉ cần tra can chi của năm đang cúng rồi đọc nguyên cụm đó vào dòng ghi ngày, ví dụ “năm Bính Ngọ”. Nếu không nhớ, đọc theo năm dương lịch cũng được, vì phần quan trọng vẫn là lòng thành.

Giờ cúng và những lưu ý thường gặp
Không có khung giờ bắt buộc chung. Các gia đình thường chọn buổi sáng mùng 1 và chiều tối ngày rằm, vì lễ Vọng gắn với lúc trăng tròn. Nhiều nhà làm lễ khoảng 7 đến 11 giờ sáng.
Tục cúng trước một ngày khá phổ biến. Cúng chiều 30 (hoặc 29 nếu tháng thiếu) thay cho mùng 1, chiều 14 thay cho ngày rằm, đều được các tài liệu nghi lễ ghi nhận là chấp nhận được.
- Số nén hương: nhiều nơi thắp 1 hoặc 3 nén, là thói quen chứ không phải luật.
- Thái độ: mặc gọn gàng, đọc chậm và rõ, không cần đọc to.
- Hoa quả: dùng đồ tươi. Một số vùng kiêng hoa quả giả hoặc hoa có gai, vùng khác không kiêng; đây là phong tục theo vùng miền và dòng họ.
- Kiêng kỵ: các điều kiêng dân gian như tránh cãi vã, tránh đổ vỡ ngày mùng 1 là lời nhắc giữ hòa khí đầu tháng.
- Hạ lễ: chờ hương cháy gần hết rồi hạ lễ.
Cách bày lễ và thứ tự khấn khá gần với các dịp lớn như lễ giao thừa trong nhà hay lễ tất niên cuối năm, chỉ khác quy mô mâm lễ.
Kết luận
Cúng mùng 1 và ngày rằm gói trong ba việc: sắm lễ đơn giản, khấn thần linh và Thổ công trước, khấn gia tiên sau. Hai bài văn dùng chung cho cả hai dịp, chỉ đổi dòng ghi ngày, và nên đối chiếu lại các chỗ hay bị chép sai như “lễ bạc tâm thành”, “cù lao Tiên Tổ”. Nội dung bài viết mang tính tham khảo, phản ánh phong tục lưu truyền và có thể khác nhau giữa các vùng miền cũng như giữa các dòng họ.
Câu hỏi thường gặp
Khấn Thổ công trước hay khấn gia tiên trước?
Theo lệ cổ truyền, khấn thần linh và Thổ công trước, gia tiên sau, vì Thổ công được xem là vị cai quản đất đai nhà cửa. Nhà một ban thờ chung thì đọc lần lượt hai bài tại ban đó.
Văn khấn mùng 1 và văn khấn ngày rằm có khác nhau không?
Bản văn giống nhau. Cả bài khấn Thổ công lẫn bài khấn gia tiên đều dùng chung cho hai dịp, chỉ khác ở dòng ghi ngày: cúng mùng 1 thì đọc “ngày mồng một”, cúng rằm thì đọc “ngày rằm”.
Lễ cúng mùng 1 và ngày rằm cần sắm những gì?
Thông thường là lễ chay gồm hương, hoa tươi, trầu cau, quả, tiền vàng và chén nước sạch. Một số gia đình làm thêm lễ mặn với rượu, thịt gà luộc. Các sách đều ghi lễ vật có thể rất giản dị.
Có thể cúng trước vào chiều ngày 30 hoặc chiều ngày 14 không?
Được. Tục cúng trước một ngày khá phổ biến, thường do lịch sinh hoạt của gia đình. Cúng chiều 30 thay cho mùng 1 và chiều 14 thay cho ngày rằm đều được ghi nhận là chấp nhận được.
Nên cúng mùng 1 và ngày rằm vào giờ nào?
Không có khung giờ bắt buộc chung. Nhiều gia đình chọn buổi sáng cho lễ mùng 1 và chiều tối cho lễ ngày rằm, phổ biến là khoảng 7 đến 11 giờ.
Những chỗ nào trong bản văn khấn hay bị chép sai?
Bốn chỗ hay gặp là “lễ bạc tâm thành” chép thành “lễ bạn tâm thành”, “hương hoa” thành “hương loa”, “toàn gia” thành “tòan gia”, và chữ “ngài” trong “ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần” bị rơi mất.
Nếu cha mẹ còn sống thì đọc phần gia tiên thế nào?
Bản văn gia tiên có sẵn chú thích. Cụm “Hiển khảo, Hiển tỷ” chỉ cha mẹ đã mất, nên nếu cha mẹ còn sống thì thay bằng “Tổ Khảo, Tổ Tỷ”.





